SUY NGHĨ VỀ ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM GIA ĐÌNH TRONG CHIẾN TRANH QUA TRUYỆN CHIẾC LƯỢC NGÀ

*

*

Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà - Bài văn mẫu 1

Trong bất cứ hoàn cảnh nào thì tình cảm gia đình luôn gắn bó không thể tách rời. Và trong chiến tranh thì tình cảm đó càng được thể hiện một cách sâu sắc. Ta có thể thấy được tình cảm này qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

Bạn đang xem: Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện chiếc lược ngà

ẢNH

Ông Sáu rất buồn khi phải xa gia đình của mình nhưng vì nền độc lập của đất nước nên ông Sáu đã quyết định tham gia kháng chiến. Ông Sáu thoát ly đi kháng chiến khi ông chỉ biết mặt đứa con gái qua tấm ảnh. Tám năm sau, trong một lần về thăm nhà ông mới được gặp con. Việc trở lại gia đình sau từng ấy năm xa cách không có gì là đặc biệt cả. Nhưng cuộc chiến tranh quá dài đã tạo nên một tình huống mà chính một người cán bộ già dặn là ông Sáu cũng không thể nào ngờ: đứa con gái mà ngày đêm ông mong nhớ đã không nhận ra ông. Tình huống này giống như một nhát cắt vào mối tình phụ tử. Chiến tranh, bom đạn đã cướp đi người cha của bé Thu - ông Sáu.

Ông Sáu cũng như bao người dân Việt Nam khác đều nghĩ rằng: một khi chưa có độc lập thì một gia đình nhỏ bé của ông cũng chưa được hạnh phúc. Còn đối với bé Thu, nó cho rẳng ông Sáu không phải là cha. Ba ngày ở nhà với ông Sáu như một sự thử thách của lòng kiên nhẫn. Khi ông càng cố làm thân với con thì bé Thu càng tỏ thái độ ngang ngạnh, hỗn xược. Đứa trẻ thơ ngây ấy dành hết lòng yêu cha cho người cha trên tấm hình chụp chung với má nó (người cha không có vết sẹo trên má). Bé Thu đột ngột thay đổi, khi nó bắt đầu nhận ra ông Sáu chính là người cha mà nó mong nhớ. Nhưng khi nó bắt đầu hiểu ra thì thời gian đã không còn nữa. Trong lúc bất ngờ nhất nó đã cất tiếng gọi “Ba” - tiếng gọi mà nó đã đè nén bao lâu nay. Nó ôm chặt lấy ba nó như không muốn mất đi người ba mà nó đã chờ đợi. Hoá ra chính thái độ ương ngạnh có phần hỗn xược của Thu lại là tình yêu thương ba sâu sắc; tình cảm bền chắc này được bé Thu thể hiện rất đỗi hồn nhiên.

Với ông Sáu, vì phải xa con từ khi nó còn nhỏ nên ông nhớ con da diết. Ngày nào ông cũng ngắm đứa con gái qua tấm hình. Cho đến ngày được trở về thì ông không kìm nén nổi cảm xúc, ông đã lao nhanh lên bờ, vừa chạy vừa gọi con. Tiếng gọi mà ông đã chờ sau bảy, tám năm xa cách vừa đau đớn vừa chứa đầy tình yêu thương. Và cũng vì thương con nên ông rất đau khổ trước sự lạnh lùng của con, nhưng ông vẫn cố làm thân, chăm sóc và mong con hiểu ra. Khi không kìm chế được nỗi thất vọng ông đã đánh con để rồi sau này ân hận mãi. Ông Sáu đã rất hạnh phúc khi được nghe Thu gọi ba. Cuối cùng sau ba ngày phải chịu sự lạnh nhạt của con thì giờ đầy, điều đó đã được bù đắp bằng tình yêu mà bé Thu đã dành cho ông trước khi ông lên đường. Ở chiến trường, nỗi nhớ con được ông dồn hết tâm trí vào làm chiếc lược và tẩn mẩn khắc từng nét : “Yêu nhớ tặng Thu con của ba. Đó là chiếc lược được khắc bằng cả tấm lòng, bằng tất cả nỗi nhớ, tình yêu thương của ông dành cho bé Thu. Nhưng thật không may, bom đạn chiến tranh một lần nữa lại mang ông đi, lần này là đĩ xa mãi mãi không trở về nữa. Ông dồn chút sức lực cuối cùng nhờ người bạn trao cây lược ngà mà ông đã dồn hết tâm huyết làm nó để dành tặng con gái của mình. Tuy thân xác ông không còn được trở về với gia đình nhưng tâm hồn ông thì luôn ở bên con và gia đình của mình.

Bên cạnh tình cảm cha con, tình vợ chồng thủy chung son sắc cũng khiến người đọc thật xúc động. Suốt mấy năm chồng đi kháng chiến, vợ chồng ông Sáu chỉ gặp nhau có mấy lần, những lần đi thăm đều rất khó khăn, mỗi lần chỉ gặp nhau vài ngày. Nhưng bà Sáu vẫn vượt đường xa, nguy hiểm đến thăm chồng. Khi ông Sáu về phép, bà lo lắng chăm sóc cho chồng (lo chuẩn bị đồ đạc, xếp từng chiếc áo…). Chiến tranh có thể làm họ xa nhau về khoảng cách địa lý, chứ không làm họ xa nhau về tấm lòng.

Cùng với đó, tình cảm bà cháu tuy chỉ được nhắc đến chút ít nhưng lại có vai trò quan trọng. Bà ngoại chính là người bé Thu thường tìm đến tâm sự mỗi lần bị mẹ mắng. Và bà cũng là người duy nhất được biết lý do Thu không nhận ba. Điều đó cho thấy bé Thu vô cùng tin tưởng bà. Cũng chính bà ngoại đã giảng giải cho Thu hiểu rõ nguyên nhân của vết sẹo hằn trên gương mặt của ba. Nhờ đó, cô bé đã nhận lại ba trước khi quá muộn. Có thể nói, bà ngoại có một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của bé Thu. Bà cũng chính là cầu nối giữa tình cảm của cha con bé Thu.

Câu chuyện với những tình huống éo le mà cảm động và diễn biến tâm trạng nhân vật phức tạp được miêu tả hết sức tinh tế đã khiến cho ta phải rung động trước tình cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Chiến tranh có thể huỷ diệt được cuộc sống, nhưng không thể huỷ diệt tình cảm gia đình thiêng liêng của con người.

Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà - Bài văn mẫu 2


Nguyễn Quang Sáng là một trong những cây bút tiêu biểu nhất của nền văn học kháng chiến chống Mỹ. Là một nhà văn, đồng thời là một người lính, Nguyễn Quang Sáng có điều kiện đi sâu vào đời sống và chiến đấu của các chiến sĩ. Thế nhưng, ông không khai thác các sự kiện trọng đại như các nhà văn khác. Ngòi bút của ông hướng vào những nhân vật bình thường, nhưng truyền tải được lí tưởng cách mạng sâu sắc.

Mỗi tác phẩm là một sự hòa hợp giữa cái chung và cái riêng, giữa lí tưởng và tình cảm cá nhân. Qua truyện ngắn Chiếc lược ngà, người đọc nhận rõ điều đó. Từ câu chuyện nhà của ông Sáu, tác phẩm thể hiện sâu sắc và cảm động đời sống tình cảm gia đình của các chiến sĩ trong chiến tranh vừa rất khốc liệt vừa hết sức tha thiết.

Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết 1966, tại chiến trường Nam Bộ, trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra gay go, ác liệt nhất. Tác phẩm xoay quanh câu chuyện gia đình ông Sáu-một cán bộ kháng chiến.

Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến từ lúc bé Thu mới một tuổi. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Chỉ vì vết sẹo trên mặt ông mà khiến bé Thu không nhận ra ông là cha. Bởi thế, Thu đã đối xử với ông như người xa lạ. Đến khi Thu nhận ra cha nhờ ngoại giải thích, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải lên đường trở về khu căn cứ. Cảnh chia tay của hai cha con trên bến sông khiến những người có mặt cảm động không cầm được nước mắt.

Ở khu căn cứ, ông dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng con. Trong một trận càn của giặc, ông Sáu hi sinh. Trước lúc ra đi mãi mãi, ông đã kịp trao cây lược cho bác Ba-người đồng đội thân thiết và nhờ bạn chuyển cho con gái.

Với giọng văn nhẹ nhàng, tha thiết, Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện thành công đời sống tình cảm gia đình trớ trêu trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Chiến tranh mang đến cho con người biết bao đau thương, cay đắng. Chiến tranh làm tổn thương tình cảm gia đình, gây nên sự chia cách và những mất mát không thể nào bù đắp được.

Vì cuộc chiến, ông Sáu phải rời bỏ gia đình lên căn cứ khi đứa con bé bỏng chưa tròn một tuổi. Khi đứa con chưa nhận kịp ra khuôn mặt của cha, chưa biết ghi khắc vào kí ức hình bóng thân yêu ấy. Bao nhiêu năm ông Sáu biền biệt là bấy nhiêu năm bé Thu mong nhớ. Nó chỉ biết ông qua tấm ảnh cũ mà mẹ nó đưa cho nó. Nó gìn giữ hình bóng ấy trong trái tim thơ dại như một báu vật không ai có thể xúc phạm đến.

Thật tội nghiệp con bé, chỉ tại chiến tranh mà nó đã không thể có được một tuổi thơ tươi đẹp bên cha, không có được sự che chở của cha và những kỉ niệm có cha ở trong đời. Đó là một mất mát to lớn, đủ sức làm tổn thương những tâm hồn dù mạnh mẽ đến thế nào đi nữa.

Ông Sáu rất hiểu điều đó. Xa vợ, xa con, xa mái ấm gia đình giữa lúc như thế này đối ông là một điều thật khó khăn. Nhưng cuộc chiến đang vẫy gọi và ông đã mạnh mẽ lên đường, để lại tình riêng hướng đến lý tưởng. Bao nhiêu năm xa con, không ngày nào ông thôi nhớ đến con. Ông mường tượng hình dáng của con, nghĩ đến con khi ở một mình. Chị Sáu nhiều lần lên cứ thăm ông có kể về con càng làm ông muốn trở về ôm lấy con bé cho thỏa khao khát bao năm xa cách.

Xem thêm: Nam Định: Đài Hóa Thân Hoàn Vũ Thiên Đức, Nhà Tổ Chức Tang Lễ

Chiến tranh đã tàn bạo ngăn cách và tước đoạt đi của con người những những quyền lợi thiêng liêng nhất. Họ vốn thuộc về nhau, trong gia mái ấm gia đình. Thế mà bây giờ tuy gần mà lại rất xa, chỉ nghe chứ không được gặp. Tình cha con chỉ tồn tại trong tâm hồn của họ, sống trong trái tim họ. Tình vợ chồng cũng chỉ một vài lần gặp gỡ trong chừng ấy năm. Nỗi khát khao đoàn tụ tưởng chừng có thể làm rụng vỡ trái tim, chai sạn tinh thần.

Và khi ông Sáu có dịp trở về. Thật không thể hình dung nổi trong lòng ông Sáu đã hân hoan như thế nào khi được trở về với gia đình sau bao năm xa cách. Ông nghĩ nhiều điều lắm, vui mừng lắm, chuẩn bị đón nhận gia đình với trái tim tột cùng hạnh phúc sau bao năm khát khao, chờ đợi. Nhưng thật trớ trêu thay, cuộc đời lúc nào cũng thích thách thức con người. Ngay lúc ông mở rộng vòng tay thương mến đón nhận thì bé Thu không nhận ông là cha khiến ông hụt hẫng vô cùng, trái tim như thắt chặt lại nghẹn ngào.

Đến đây, người đọc cũng không khỏi ngỡ ngàng và vội đi tìm câu trả lời: tại sao lại như thế? Có thể ông Sáu sẽ hoài nghi chị Sáu nhưng trong lòng ông không hề nghĩ như thế. Ông cố gần con bé hơn nữa nhưng càng gần bé Thu càng cự tuyệt ông. Nỗi đau đớn quặn thắt trong trái tim ông. Bởi tình yêu của người cha quá lớn mà hoàn cảnh lại đặt ra thách thức khắc nghiệt quá. Ông chỉ có vẻn vẹn ba ngày ở bên gia đình.

Nhà văn không để người đọc đời chờ lâu hơn nữa. Tình huống đã được nhà văn cởi mở. Nhờ bà ngoại mà bé Thu đã hiểu ra vết sẹo trên mặt của ông Sáu. Thế nhưng, thật éo le thay, khi cha con nhận ra nhau cũng là lúc ông Sáu phải trở về căn cứ.

Tình cha con chỉ kịp nảy nở trong khoảng khắc và phải chia ly biền biệt. Tiếng kêu tha thiết, tiếng khóc nghẹn ngào của Bé thu trên bến sông trong buổi sớm hôm ấy mãi mãi ám ảnh trong lòng người đọc, nhắc nhở con người về sự tàn khốc của chiến tranh, về những mất mát đau thương vô bờ bến mà dân tộc ta đã gánh chịu, đã trải qua.

Ông Sáu khát khao cháy bỏng đoàn tụ với gia đình nhưng không vì thế mà ông rời bỏ lý tưởng, rời bỏ vị trí chiến đấu. Trên chiến khu, ông dành tất cả tình yêu thương, nỗi mong nhớ của mình làm chiếc lược ngà. Mỗi chiếc lược chứa đựng biết bao nỗi nhớ niềm thương dành cho đứa con gái bé bỏng. Chính công việc ấy cũng làm ông vơi bớt nỗi đau xa cách. Bất ngờ, ông Sáu hi sinh. Tình yêu con của ông đột ngột bị cắt đứt bởi vết đạn tàn nhẫn của kẻ thù. Hình ảnh chiếc lược ngà trở thành biểu tượng kết nối thiêng liêng giữa anh Sáu và bé Thu, giữa các thế hệ trong cuộc chiến chống kẻ thù.

Chiến tranh đã gây nên nghịch cảnh, dựng nên những màn kịch thách đố con người. Nhưng họ vẫn sống và sống cao đẹp. Bé Thu sau này cũng trở thành một cô giao liên dũng cảm, cũng ra mặt trận làm nhiệm vụ, tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước. Và khi cô nhận lấy chiếc lược từ tay người đồng đội của cha cô không khỏi nghẹn ngào. Chiến tranh có thể ngăn cách họ nhưng không thể nào giết chết tình yêu thương trong họ. Họ vẫn sống và sống anh hùng.

Qua “Chiếc lược ngà”, người đọc nhìn rõ sự tàn khốc của chiến tranh. Nó gây nên những vết thương khủng khiếp, nó làm tổn thất tình cảm gia đình, nó cắt rạch vào trái tim niềm đau nhức nhối, dai dẳng không bao giờ nhạt phai.

Truyện còn giúp người đọc nhận ra đời sống tình cảm mãnh liệt của con người Việt Nam, vẻ đẹp rực rỡ của tâm hồn Việt Nam. Chiến tranh dù khốc liệt đến đâu cũng không hủy diệt được tình cảm gia đình vốn được giấu kín và gìn giữ trong những trái tim.

Chiếc lược ngà xứng đáng là một bài ca hào hùng và cảm động về tình cảm gia đình thiêng liêng, bất diệt trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt; là khúc hát ra trận hùng tráng, sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà - Bài văn mẫu 3

Nguyễn Quang Sáng quê ở An Giang, ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ .“Chiếc lược ngà” là một tác phẩm tiêu biểu của ông. Bằng việc sáng tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý, truyện đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp của cha con ông Sáu trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

Trong chiến tranh, con người phải chịu nhiều mất mát, thiệt thòi, hy sinh về tình cảm gia đình. Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến khi con gái đầu lòng mới tròn một tuổi . Sau tám năm xa cách ông mới có dịp trở về thăm nhà, nhưng trớ trêu thay, Thu không nhận ông là ba. Phút đầu gặp gỡ, Thu ngờ vực, lảng tránh,thậm chí còn sợ hãi bỏ chạy vì : “vết thẹo bên má phải cứ mỗi khi anh xúc động thì nó lại đỏ ửng lên, giật giật trông rất dễ sợ ”. Trong những ngày ông Sáu ở nhà, Thu cương quyết không nhận ông là cha mặc dù ông đã tìm mọi cách để gần gũi,v ỗ về cô bé. Có những lúc, lâm vào thế bí, nó cũng chỉ nói trổng: “Vô ăn cơm”, “cơm sôi rồi,chắt nước giùm cái” , “cơm sôi rồi, nhão bây giờ”… Trong bữa cơm, ông Sáu âu yếm gắp cho con miếng trứng cá to, không ngờ bé phản ứng một cách quyết liệt: “bất thần hắt miếng trứng cá ra khỏi bát làm cơm bắn tung toé cả ra mâm”. Bị ông Sáu đánh vào mông, Thu bỏ về nhà ngoại và còn “cố ý làm cho dây lòi tói khua rổn rảng ”…Sự ương ngạnh, bướng bỉnh của Thu không hoàn toàn đáng trách bởi em còn quá nhỏ để hiểu được sự éo le, khắc nghiệt trong hoàn cảnh xa cách của chiến tranh và những người lớn trong gia đình cũng chưa kịp chuẩn bị cho em đón nhận những khả năng bất thường đó. Em không nhận ông Sáu là cha vì ông có vết thẹo dài trên má không giống bức hình chụp chung với má mà em biết. Điều đó chứng tỏ tình cảm của Thu dành cho ba thật sâu sắc.- Em chỉ bộc lộ tình yêu sâu sắc của mình với ba khi biết chắc đó là ba .

Buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường, thái độ của Thu đột ngột thay đổi. Trong đêm bỏ về nhà ngoại Thu đã được bà giải thích về vết thẹo. Bé hiểu ra, ân hận và hối tiếc vô cùng: “nghe bà kể , nó nằm im lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Phút chia tay “vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông thật dễ thương”. Khi ông Sáu nhìn con để chào từ biệt, “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao” tình cha con bị dồn nén bấy lâu chợt bùng lên mạnh mẽ, hối hả,cuống quýt. Nó thét lên gọi ba“tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa”. Hành động của Thu cũng thay đổi “nó nhảy thót lên, dang cả hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó hôn ba nó cùng khắp, hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”…Tất cả những hành động,thái độ đó của Thu đều bắt nguồn từ tình cảm dành cho người ba mà bé hằng yêu kính, tôn thờ và không ai có thể thay thế được. Tình cảm của Thu thật mạnh mẽ, sâu sắc và cũng dứt khoát, rạch ròi. Ở Thu có nét cứng cỏi đến ương ngạnh nhưng vẫn có nét ngây thơ, hồn nhiên của con trẻ. Bằng tâm hồn nhạy cảm, một trái tim nhân hậu và tấm lòng chan chứa yêu thương đối với trẻ em, Nguyễn Quang Sáng dường như đã cảm nhận đến tận cùng những biểu hiện tình cảm của nhân vật để miêu tả một cách sinh động và tinh tế .

Nhân vật chính thứ hai trong tác phẩm là nhân vật ông Sáu. Tình cảm của ông đối với con gái nhỏ được biểu hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà. Khi xuồng chưa kịp cập bến, trông thấy con ông đã vội vàng “nhảy lên bờ,khom người, hai tay đưa về phía trước, miệng lắp bắp : “ba đây con ! ba đây con.” Những tưởng bé Thu sẽ ào tới, ôm lấy cổ ba cho thoả những tháng ngày xa cách. Nhưng không, ông hẫng hụt, bất ngờ khi thấy: “bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy ”. Thời gian ở nhà không nhiều nên ông Sáu không đi đâu xa, suốt ngày chỉ tìm cách gần gũi, vỗ về con, mong con gọi một tiếng ba mà không được. Có lúc giận quá ông đã đánh con. Lúc chia tay tình yêu mãnh liệt của bé Thu khiến ông cảm động “một tay ôm con,tay kia lấy khăn chấm nước mắt ”. Cảm động và đau đớn hơn khi biết rằng đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh được nghe tiếng ba thân thương từ cô con gái nhỏ, bởi vì sau đó, chẳng bao giờ anh có thể trở về được nữa! Trong những ngày ở khu căn cứ, anh ân hận vì đã trót đánh con. Nhớ lời con dặn, khi kiếm được một khúc ngà anh vui mừng như trẻ nhỏ “mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Những ngày sau đó bao nhiêu tình cảm yêu quí,nhớ thương con anh dồn cả vào việc làm cây lược. Anh cặm cụi “cưa từng răng lược, anh còn khắc lên đó dòng chữ nhỏ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”…Những lúc nhớ con anh mang cây lược ra mài lên tóc mình cho cây lược thêm óng mượt : “Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc dài của con nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh”. Có lẽ những lúc ấy anh mong có một lần về phép thăm nhà để anh tự tay mình cầm cây lược chải tóc cho con …Đau đớn thay chiến tranh khiến anh chẳng bao giờ có thể trở về bên con gái anh được nữa. Anh bị hy sinh trong một trận càn. Trước lúc hy sinh, “dường như chỉ có tình cha con là không thể chết”, anh cầm cây lược trao cho bạn với niềm mong mỏi không còn có thể cất được thành lời. Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành kỷ vật, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn mênh mông mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Chủ đề của chuyện không mới lạ, nhưng tác giả thành công bởi đã khai thác tình cha con trong những tình huống éo le cảm động. Cách lựa chọn ngôi kể, tạo lập tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý cùng với việc miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế, sâu sắc đặc biệt là tâm lý trẻ thơ đã giúp truyện có được vị trí riêng trong lòng độc giả .

Câu chuyện về chiếc lược bằng ngà không chỉ nói lên tình cha con sâu nặng thắm thiết mà còn gợi cho người đọc suy ngẫm và thấm thía những mất mát đau thương mà chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu gia đình. Bởi vậy mà em càng thêm trân trọng cuộc sống hoà bình mà chúng ta đang có hôm nay .

Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà - Bài văn mẫu 4